Việt Nam - Nhật Bản chia sẻ giải pháp mới trong phát triển nông nghiệp

Ngành nông nghiệp Nhật Bản đang hiện đại hóa rất nhanh, áp dụng mạnh mẽ công nghệ IT và AI vào thực tiễn sản xuất, mở ra cơ hội cho nông sản Việt Nam.

Ngành nông nghiệp Nhật Bản đang hiện đại hóa siêu nhanh, áp dụng mạnh mẽ khoa học IT và AI vào thực tiễn sản xuất, mở ra thời cơ cho nông phẩm Việt Nam.

Ngày 5/11, Hội nghị Nông nghiệp Việt Nam - vùng Kyushu, Nhật Bản lần thứ nhất diễn ra với sự tham gia của Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp, Thống đốc thức giấc Kumamoto Ikuo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đại học Kyushu Giáo sư Nakao Miki, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Nhật Bản Vũ Hồng Nam cộng đại biểu từ những trường đại học nông nghiệp và doanh nghiệp của hai nước.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định mối quan hệ cộng tác nông nghiệp giữa Việt Nam và Nhật Bản đã lớn mạnh sâu rộng và hiệu quả.

Theo Thứ trưởng, nông nghiệp vùng Kyushu với vị trí quan trọng đối sở hữu Nhật Bản. Nơi đây sở hữu đa dạng trường đại học nức danh về nông nghiệp như Đại học Kyushu, Kumamoto, Miyazaki, Kagoshima,… Riêng Đại học Kyushu hiện với gần 50 học viên cao học và nghiên cứu sinh nông nghiệp tới từ Việt Nam.

Điều này đã phần nào kể lên tầm quan trọng, uy tín, sức hút và quan hệ cộng tác về nông nghiệp giữa hai nước tại vùng đất này. Vì vậy, Thứ trưởng đánh giá cao ý tưởng và quyết tâm của Đại học Kyushu và Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka khi đơn vị thành công Hội thảo nông nghiệp Việt Nam - Kyushu, Nhật Bản bất chấp những khó khăn hiện tại.

PGS. Hamanaka Daisuke, đại diện Đại học Kagoshima, đã san sẻ trong buổi Hội thảo trực tuyến về hệ thống “Ngân hàng tươi mới - Fresh Bank” đang triển khai siêu tích cực tại Nhật Bản. Đây là hệ thống container đựng những nông phẩm tươi sống, là 1 giải pháp mới cho các nhà hàng vận chuyển để sản xuất các dịch vụ giá trị gia nâng cao cho khách hàng.

Hệ thống này nổi bật với ba tính năng chính: Các hậu sự lạnh được vật dụng trang bị mang khả năng tạo ra điện trường bên trong giúp nông sản được đựng bên trong đạt độ tươi sống tốt nhất. Ngân hàng tươi mới mang thể đồng thời đóng vai trò là săng đựng lạnh và thùng cất khô, sở hữu cộng khối lượng và trọng lượng vận chuyển như 1 container lạnh thông thường. Đặc biệt, hệ thống bảo đảm quá trình khiến việc an toàn, lặng tâm cho con người sử dụng.

Hệ thống đã được thí điểm và cho kết quả khả quan, diễn tả hiệu quả bảo quản nông phẩm bảo đảm lâu dài, gợi mở việc thay đổi phương thức vận chuyển tần tiện chi phí, giảm thất thoát và tiêu hao thực phẩm, tạo ra giá trị gia tăng cao. Với những lợi thế trên, ông Hamanaka mong rằng sẽ mang thể mở rộng thị trường sang những nước trong thời gian tới.

Trong phạm vi Hội thảo, ông Ota Kohei, đại diện Viện Nghiên cứu Nông nghiệp - Đại học Kyushu, đã với bài san sớt về mô hình nghiên cứu nuôi trồng cá saba lôi kéo được rất rộng rãi sự quan tâm của những đại biểu tham dự, đặc biệt là các công ty Việt Nam.

Nghiên cứu cho thấy cá saba có đặc tính giảm độ tươi nhanh và dễ nhiễm ấu trùng hoặc giun, do ấy Trung tâm đổi mới an toàn sinh vật học thủy sản (ABRIC, thuộc Viện Nghiên cứu Nông nghiệp - Đại học Kyushu) trong công đoạn nuôi đã tiến hành lựa chọn trứng và duy trì vòng tuần hoàn nuôi trồng để bảo đảm người sử dụng sẽ không bị nhiễm nên những ấu trùng độc hại.

Nghiên cứu cá saba tập trung vào hai hướng gồm cải thiện năng suất và tăng hiệu quả giai đoạn phân phối nhằm phát triển nghề cá trong khu vực, song song bảo đảm nguồn cung protein động vật bền vững. ABRIC đã triển khai đưa vào vật dụng ICT cho cá ăn từ xa, tiêu dùng côn trùng khiến nguồn thức ăn mới, tạo dựng hệ thống kiểm soát sinh sản.

Đặc biệt, ABRIC đã hài hòa nghiên cứu di truyền gien cho cá, chỉnh sửa bộ gien. Ông Ota Kohei cho biết cá saba có tập tính ăn làm thịt đồng loạt (cá to nuốt cá bé), phải giả dụ giảm được đặc tính này sẽ cải thiện năng suất chung của lứa cá.

Ô nhiễm môi trường đang là một trong những duyên do chính gây bắt buộc hiện tượng biến đổi gien ở các loài vật. Chỉnh sửa bộ gien sẽ góp phần to lớn vào việc điều khiển sự tăng trưởng cái đời, cải thiện giá trị gia tăng. Các kĩ thuật thúc đẩy tới tế bào gốc tạo thời cơ cho việc bảo đảm năng suất và cải thiện chất lượng vật nuôi, với tiềm năng áp dụng thực tại trong tương lai, dự định phát triển thêm được phổ biến kĩ thuật cho cả những đối tượng khác như hoa quả hay các loại nông phẩm khác.

Ngành nông nghiệp Nhật Bản đang hiện đại hóa siêu nhanh, áp dụng mạnh mẽ khoa học IT và AI vào thực tiễn sản xuất, mở ra thời cơ cho nông phẩm Việt Nam.  Ngày 5/11, Hội nghị Nông nghiệp Việt Nam - vùng Kyushu, Nhật Bản lần thứ nhất diễn ra với sự tham gia của Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp, Thống đốc thức giấc Kumamoto Ikuo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đại học Kyushu Giáo sư Nakao Miki, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Nhật Bản Vũ Hồng Nam cộng đại biểu từ những trường đại học nông nghiệp và doanh nghiệp của hai nước.  Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định mối quan hệ cộng tác nông nghiệp giữa Việt Nam và Nhật Bản đã lớn mạnh sâu rộng và hiệu quả.  Theo Thứ trưởng, nông nghiệp vùng Kyushu với vị trí quan trọng đối sở hữu Nhật Bản. Nơi đây sở hữu đa dạng trường đại học nức danh về nông nghiệp như Đại học Kyushu, Kumamoto, Miyazaki, Kagoshima,… Riêng Đại học Kyushu hiện với gần 50 học viên cao học và nghiên cứu sinh nông nghiệp tới từ Việt Nam.  Điều này đã phần nào kể lên tầm quan trọng, uy tín, sức hút và quan hệ cộng tác về nông nghiệp giữa hai nước tại vùng đất này. Vì vậy, Thứ trưởng đánh giá cao ý tưởng và quyết tâm của Đại học Kyushu và Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka khi đơn vị thành công Hội thảo nông nghiệp Việt Nam - Kyushu, Nhật Bản bất chấp những khó khăn hiện tại.  PGS. Hamanaka Daisuke, đại diện Đại học Kagoshima, đã san sẻ trong buổi Hội thảo trực tuyến về hệ thống “Ngân hàng tươi mới - Fresh Bank” đang triển khai siêu tích cực tại Nhật Bản. Đây là hệ thống container đựng những nông phẩm tươi sống, là 1 giải pháp mới cho các nhà hàng vận chuyển để sản xuất các dịch vụ giá trị gia nâng cao cho khách hàng.  Hệ thống này nổi bật với ba tính năng chính: Các hậu sự lạnh được vật dụng trang bị mang khả năng tạo ra điện trường bên trong giúp nông sản được đựng bên trong đạt độ tươi sống tốt nhất. Ngân hàng tươi mới mang thể đồng thời đóng vai trò là săng đựng lạnh và thùng cất khô, sở hữu cộng khối lượng và trọng lượng vận chuyển như 1 container lạnh thông thường. Đặc biệt, hệ thống bảo đảm quá trình khiến việc an toàn, lặng tâm cho con người sử dụng.  Hệ thống đã được thí điểm và cho kết quả khả quan, diễn tả hiệu quả bảo quản nông phẩm bảo đảm lâu dài, gợi mở việc thay đổi phương thức vận chuyển tần tiện chi phí, giảm thất thoát và tiêu hao thực phẩm, tạo ra giá trị gia tăng cao. Với những lợi thế trên, ông Hamanaka mong rằng sẽ mang thể mở rộng thị trường sang những nước trong thời gian tới.  Trong phạm vi Hội thảo, ông Ota Kohei, đại diện Viện Nghiên cứu Nông nghiệp - Đại học Kyushu, đã với bài san sớt về mô hình nghiên cứu nuôi trồng cá saba lôi kéo được rất rộng rãi sự quan tâm của những đại biểu tham dự, đặc biệt là các công ty Việt Nam.  Nghiên cứu cho thấy cá saba có đặc tính giảm độ tươi nhanh và dễ nhiễm ấu trùng hoặc giun, do ấy Trung tâm đổi mới an toàn sinh vật học thủy sản (ABRIC, thuộc Viện Nghiên cứu Nông nghiệp - Đại học Kyushu) trong công đoạn nuôi đã tiến hành lựa chọn trứng và duy trì vòng tuần hoàn nuôi trồng để bảo đảm người sử dụng sẽ không bị nhiễm nên những ấu trùng độc hại.  Nghiên cứu cá saba tập trung vào hai hướng gồm cải thiện năng suất và tăng hiệu quả giai đoạn phân phối nhằm phát triển nghề cá trong khu vực, song song bảo đảm nguồn cung protein động vật bền vững. ABRIC đã triển khai đưa vào vật dụng ICT cho cá ăn từ xa, tiêu dùng côn trùng khiến nguồn thức ăn mới, tạo dựng hệ thống kiểm soát sinh sản.  Đặc biệt, ABRIC đã hài hòa nghiên cứu di truyền gien cho cá, chỉnh sửa bộ gien. Ông Ota Kohei cho biết cá saba có tập tính ăn làm thịt đồng loạt (cá to nuốt cá bé), phải giả dụ giảm được đặc tính này sẽ cải thiện năng suất chung của lứa cá.  Ô nhiễm môi trường đang là một trong những duyên do chính gây bắt buộc hiện tượng biến đổi gien ở các loài vật. Chỉnh sửa bộ gien sẽ góp phần to lớn vào việc điều khiển sự tăng trưởng cái đời, cải thiện giá trị gia tăng. Các kĩ thuật thúc đẩy tới tế bào gốc tạo thời cơ cho việc bảo đảm năng suất và cải thiện chất lượng vật nuôi, với tiềm năng áp dụng thực tại trong tương lai, dự định phát triển thêm được phổ biến kĩ thuật cho cả những đối tượng khác như hoa quả hay các loại nông phẩm khác.  Trả lời câu hỏi của những đại biểu, ông Ota Kohei nhấn mạnh rằng việc khoa học chỉnh sửa gien cải thiện đặc tính với lợi, giảm chuyển vận đặc tính với hại hoàn toàn được chấp nhận, nhưng trực tiếp biến đổi gien của loài vật được coi là hành vi cấm. Đồng thời, để thực hành chỉnh sửa gien phải mang nghiên cứu kĩ lưỡng nhằm giảm thiểu được các rủi ro.  Trong mai sau chỉnh sửa gien sẽ là 1 khoa học đón nhận rất nhiều sự sử dụng rộng rãi từ những bạn hữu quốc tế. Công nghệ này sở hữu thể được thử nghiệm lên tôm nhưng nên thí điểm và nghiên cứu thêm.     Về phía Việt Nam, TS. Mai Văn Tài, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 (RIA1), cũng đã nhắc đến sự cộng tác song phương giữa RIA1 và vùng Kyushu với mục đích tăng trưởng ngành nuôi trồng thủy sản bền vững.  Ông mong rằng hai bên sẽ thiết lập những dự án nâng cao năng lực trong nghiên cứu và đào tạo, phát triển các dự án đi vào cụ thể những lĩnh vực, và tạo điều kiện cho các nghiên cứu sinh của hai trường có thời cơ giao lưu đàm luận học hỏi lẫn nhau.  Ông cũng khẳng định những ưu điểm và tiềm năng đôi bên trong lớn mạnh sản xuất, quan trắc môi trường và những tìm mọi cách về mảng công nghệ thông báo ngành thủy sản (xây dựng cơ sở dữ liệu Bigdata, quản lý chuỗi giá trị, truy nã xuất nguồn gốc).  Nông nghiệp Nhật Bản nói chung và Kyushu nhắc riêng được đánh giá đi đầu về tiến bộ và đầu tư khoa học công nghệ. Ngành nông nghiệp đang được cơ giới hóa và hiện đại hóa rất nhanh, thể hiện trong việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông báo (IT) và trí óc nhân tạo (AI) vào thực tiễn cung cấp nuôi trồng, thu thập thông báo một bí quyết đa chiều, giúp dân cày mau chóng nắm bắt cảnh huống và đưa ra giải pháp phù hợp, đảm bảo năng suất cây trồng vật nuôi.  Những kỹ thuật tiên tiến này hoàn toàn áp dụng được cho các nông phẩm Việt Nam, ngoại giả việc khai triển với thể gặp nhiều giảm thiểu do mức giá đầu tư ban đầu cao.  Thông qua Hội thảo, hai bên đều tin rằng sự hợp tác nông nghiệp giữa Việt Nam và vùng Kyushu - Nhật Bản sẽ mở ra các thời cơ mới trong nghiên cứu và tăng trưởng nông nghiệp hai nước. Điều này đặc thù mang ý nghĩa đối có Việt Nam trong bối cảnh giang sơn đang không dừng cố gắng cập nhật các khoa học tiên tiến để thích nghi với biến đổi khí hậu và đại dịch Covid-19 trong tình hình “bình thường mới”, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm.  Ông Vũ Bình, Tổng Lãnh sự quán Việt nam tại Fukuoka, mong rằng sự hiệp tác của hai nước sẽ ngày càng sâu đậm và lâu dài, phát huy tiềm năng và điểm mạnh hai bên trong công việc nghiên cứu và tăng trưởng cung cấp nuôi trồng, hướng tới nông nghiệp bền vững.  Nhân dịp Hội thảo nông nghiệp trực tuyến Việt Nam - Kyushu (Nhật Bản), Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đã nêu 1 số đề nghị:  Một là, hai bên tiếp tục có những kết nối, đặt hàng cụ thể cho các cuộc hợp tác thiết thực trên cơ sở tiềm năng, lợi thế vốn sở hữu của từng bên, cả về hợp tác công nghệ và buôn bán - thương mại.  Hai là, đôi bên phê duyệt xây dựng 1 cơ chế bàn luận định kỳ trong khuôn khổ hoạt động này (2 - 3 năm/lần), trước mắt là nhân dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ giữa hai nước (1973-2023).  Ba là, Việt Nam mong muốn nhận được sự quan tâm, chia sẻ của Chính phủ Nhật Bản, các cơ quan sở quan và những đơn vị của cả hai bên để lan tỏa kết quả Hội thảo, coi đây là 1 sáng kiến góp phần thúc để hợp tác nông nghiệp và quan hệ hai nước.

Trả lời câu hỏi của những đại biểu, ông Ota Kohei nhấn mạnh rằng việc khoa học chỉnh sửa gien cải thiện đặc tính với lợi, giảm chuyển vận đặc tính với hại hoàn toàn được chấp nhận, nhưng trực tiếp biến đổi gien của loài vật được coi là hành vi cấm. Đồng thời, để thực hành chỉnh sửa gien phải mang nghiên cứu kĩ lưỡng nhằm giảm thiểu được các rủi ro.

Trong mai sau chỉnh sửa gien sẽ là 1 khoa học đón nhận rất nhiều sự sử dụng rộng rãi từ những bạn hữu quốc tế. Công nghệ này sở hữu thể được thử nghiệm lên tôm nhưng nên thí điểm và nghiên cứu thêm.   

Về phía Việt Nam, TS. Mai Văn Tài, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 (RIA1), cũng đã nhắc đến sự cộng tác song phương giữa RIA1 và vùng Kyushu với mục đích tăng trưởng ngành nuôi trồng thủy sản bền vững.

Ông mong rằng hai bên sẽ thiết lập những dự án nâng cao năng lực trong nghiên cứu và đào tạo, phát triển các dự án đi vào cụ thể những lĩnh vực, và tạo điều kiện cho các nghiên cứu sinh của hai trường có thời cơ giao lưu đàm luận học hỏi lẫn nhau.

Ông cũng khẳng định những ưu điểm và tiềm năng đôi bên trong lớn mạnh sản xuất, quan trắc môi trường và những tìm mọi cách về mảng công nghệ thông báo ngành thủy sản (xây dựng cơ sở dữ liệu Bigdata, quản lý chuỗi giá trị, truy nã xuất nguồn gốc).

Nông nghiệp Nhật Bản nói chung và Kyushu nhắc riêng được đánh giá đi đầu về tiến bộ và đầu tư khoa học công nghệ. Ngành nông nghiệp đang được cơ giới hóa và hiện đại hóa rất nhanh, thể hiện trong việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông báo (IT) và trí óc nhân tạo (AI) vào thực tiễn cung cấp nuôi trồng, thu thập thông báo một bí quyết đa chiều, giúp dân cày mau chóng nắm bắt cảnh huống và đưa ra giải pháp phù hợp, đảm bảo năng suất cây trồng vật nuôi.

Những kỹ thuật tiên tiến này hoàn toàn áp dụng được cho các nông phẩm Việt Nam, ngoại giả việc khai triển với thể gặp nhiều giảm thiểu do mức giá đầu tư ban đầu cao.

Thông qua Hội thảo, hai bên đều tin rằng sự hợp tác nông nghiệp giữa Việt Nam và vùng Kyushu - Nhật Bản sẽ mở ra các thời cơ mới trong nghiên cứu và tăng trưởng nông nghiệp hai nước. Điều này đặc thù mang ý nghĩa đối có Việt Nam trong bối cảnh giang sơn đang không dừng cố gắng cập nhật các khoa học tiên tiến để thích nghi với biến đổi khí hậu và đại dịch Covid-19 trong tình hình “bình thường mới”, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm.

Ông Vũ Bình, Tổng Lãnh sự quán Việt nam tại Fukuoka, mong rằng sự hiệp tác của hai nước sẽ ngày càng sâu đậm và lâu dài, phát huy tiềm năng và điểm mạnh hai bên trong công việc nghiên cứu và tăng trưởng cung cấp nuôi trồng, hướng tới nông nghiệp bền vững.

Nhân dịp Hội thảo nông nghiệp trực tuyến Việt Nam - Kyushu (Nhật Bản), Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đã nêu 1 số đề nghị:

Một là, hai bên tiếp tục có những kết nối, đặt hàng cụ thể cho các cuộc hợp tác thiết thực trên cơ sở tiềm năng, lợi thế vốn sở hữu của từng bên, cả về hợp tác công nghệ và buôn bán - thương mại.

Hai là, đôi bên phê duyệt xây dựng 1 cơ chế bàn luận định kỳ trong khuôn khổ hoạt động này (2 - 3 năm/lần), trước mắt là nhân dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ giữa hai nước (1973-2023).

Ba là, Việt Nam mong muốn nhận được sự quan tâm, chia sẻ của Chính phủ Nhật Bản, các cơ quan sở quan và những đơn vị của cả hai bên để lan tỏa kết quả Hội thảo, coi đây là 1 sáng kiến góp phần thúc để hợp tác nông nghiệp và quan hệ hai nước.

Bài viết mới nhất

  • 30% sản lượng cam Vinh được dán tem truy xuất nguồn gốc

    03/12/2021 3:46:54 CH
  • Brazil sẽ 'soán ngôi' Trung Quốc, thành nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất?

    03/12/2021 3:44:47 CH
  • Thái Nguyên: Cú hích lớn trong xây dựng NTM

    03/12/2021 3:43:23 CH
  • Vai trò của các tổ chức quốc tế và sự chuyển đổi nông nghiệp

    02/12/2021 4:33:45 CH
  • 'Năng lượng xanh' từ mái trang trại bò sữa và bã mía

    02/12/2021 4:31:45 CH
  • Câu chuyện chuỗi lúa gạo ở Tam Hưng

    02/12/2021 4:29:36 CH
  • Giá lợn hơi mới nhất ngày hôm nay bao nhiêu 1 kg?

    02/12/2021 1:56:48 CH
  • Việt Nam: Phía trước của cường quốc lương thực trong thế kỷ 21

    01/12/2021 10:57:24 SA