Cứ áp dụng Nghị định 70, dễ làm nhà khoa học nhụt chí

VAAS có 19 đơn vị thành viên, vừa rồi đều rất băn khoăn khi triển khai Nghị định 70 và đã có văn bản kiến nghị phải điều chỉnh hoặc hướng dẫn phù hợp.

Chuyện “lọt sàng xuống nia”

"Cứ vận dụng Nghị định này (Nghị định 70/2018/NĐ-CP) dễ làm cho anh em nản chí, ko ra được các sản phẩm tốt", GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) mở màn cuộc trò chuyện

"Tôi từng hỏi nhóm tác kém chất lượng xây dựng buộc phải Nghị định rằng mẫu tài sản này là gì? Tài sản cố định, của cải trí tuệ, tài sản tập huấn hay là các dòng tài sản khác nữa, phải thật cụ thể. Và được họ giải đáp cần chờ thông tư chỉ dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH-CN) để định dạng cho rõ", GS.TS Nguyễn Hồng Sơn kể.

Theo chỉ dẫn thực hiện Nghị định số 08/2014/NĐ-CP quy định yếu tố một số điều của Luật KH-CN, sản phẩm KH-CN gồm dạng I (mẫu, model, maket), sản phẩm, vật liệu, thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ, giống cây trồng, giống vật nuôi và các chiếc khác; dạng II (nguyên lý ứng dụng, phương pháp, tiêu chuẩn, quy phạm, phần mềm máy tính, bản vẽ, báo cáo…và dạng III (bài báo; sách chuyên khảo…).

Như vậy, vì chưa mang thông tư chỉ dẫn cần việc tổ chức khai triển thực hành Nghị định 70 này còn rộng rãi vướng mắc, trong đấy quan yếu là xác định loại sản phẩm và định giá tài sản. Các nhiệm vụ khoa học mà Nhà nước hiện hỗ trợ cho những viện nghiên cứu công lập thực hành thường là các nhiệm vụ mà các nhà hàng chưa thể thay thế được.

Hiện có nhiều nhà hàng hiện đã hình thành phòng ban nghiên cứu, lớn mạnh giống nhưng thực tế số thành công ko nhiều, vẫn bắt buộc kết liên mang các viện nghiên cứu của Nhà nước để mua bản quyền hay dùng giống nhập ngoại.

Ngoại trừ các giống rau lai ta chưa làm chủ được công nghệ cần phần lớn vẫn bắt buộc dựa vào nhập ngoại, còn các giống cây trồng khác đa số đã làm cho chủ được, đều do những viện nghiên cứu tạo ra như các giống lúa thuần, cà phê, tiêu, điều và đa số các giống cây ăn quả.

"Liên quan đến thực tại xác định giá trị của của cải là kết quả nhiệm vụ KH-CN được ngân sách cấp, hỗ trợ, chúng tôi nhận thấy: Đối với kết quả dạng I mới giới hạn ở quy mô phòng thí nghiệm, hoặc đánh giá, khảo nghiệm, thử nghiệm ở quy mô hẹp, chưa đáp ứng điều kiện sản xuất, thương nghiệp theo quy định của pháp luật.

Việc xác định giá trị thương mại của chúng ko đơn giản vì ko đủ cơ sở dữ liệu, ko kể các một số sản phẩm như giống cây trồng đã được xác nhận lưu hành hoặc công bố lưu hành. Hơn nữa, để thương nghiệp hóa phải thiết phải tiếp tục đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ và kinh phí tổn cho việc phát triển thị trường, cung ứng sản phẩm ở quy mô hàng hóa", GS.TS Nguyễn Hồng Sơn nêu vấn đề.

Theo ông, trên thực tế, việc định giá những sản phẩm kỹ thuật không thực sự dễ. Cùng mức kinh chi phí hỗ trợ sắp giống nhau nhưng sở hữu các giống cây trồng tạo ra được vận dụng rộng rãi, quy mô sở hữu thể tới hàng triệu ha như giống lúa OM5451, có giống chỉ được vài chục ngàn ha. Vậy loại gì tạo bắt buộc sự dị biệt đó?

Rõ ràng, không tính nguồn vốn của Nhà nước, còn mang sự đầu tư chất xám, sự cần lao mê mải của những nhà công nghệ nữa. Như vậy, việc định giá của cải để giao cho các công ty nghiên cứu hay công ty nhận chuyển giao khác ko đơn thuần vì sở hữu chu kỳ nghiên cứu của 1 đề tài từ 3 - 4 năm, chưa đủ để biết được chừng độ ưng ý của chế tạo sở hữu một sản phẩm KH-CN, trong đó sở hữu sự đầu tư nguồn vốn của Nhà nước và sự đầu tư trí tuệ, công sức của nhà khoa học.

Hiện nay, đã có phổ biến mô hình liên kết chuyển nhượng, san sớt bản quyền tác fake đối có một số giống cây trồng giữa viện nghiên cứu và siêu thị nhưng vô cùng khó định giá, bản thân tác nhái và doanh nghiệp đều ko biết hết được giá trị thực thụ của sản phẩm. Mặt khác, ví như các sản phẩm được tính toán gần như theo đúng giá trị của nó thì nó sẽ được kết tinh vào giá thành, và giá bán sản phẩm sẽ cao, dân cày ko được hưởng lợi.

Quay trở lại tỉ dụ có giống lúa OM5451, giả dụ cả Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (đơn vị nghiên cứu ra giống) và Tập đoàn Lộc Trời (đơn vị nhận chuyển giao) vỡ hoang được hết bản quyền thì khoản tiền thu được sẽ siêu lớn, có thể tương đương kinh phí tổn nghiên cứu của mọi Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Nhưng thực tế, cả viện và công ty đều chỉ thu được 1 khoản kinh chi phí vô cùng nhỏ, số đông giống do những hợp tác xã, nông dân tự để, tự sản xuất đều không thu được tác quyền.

"Trước kia, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long có thu tác quyền 100 - 200 đ/kg thóc giống, cũng ko đáng đề cập so sở hữu tiện lợi có lại cho xã hội. Tương tự như vậy, bây giờ hầu hết các giống cây ăn quả, cây công nghiệp được nhân giống theo hình thức vô tính đều chưa có doanh nghiệp nhận chuyển giao bản quyền giống vì nó dễ mất bản quyền. Dĩ nhiên trong giả dụ này, dân cày sẽ được lợi.

Như vậy, nếu Nhà nước không thu lại được vốn đã đầu tư thì người được hưởng lợi đầu tiên là nông dân, có thể coi đó là “lọt sàng xuống nia”.

Có lẽ đến lúc này, chức năng, bổn phận của các cơ quan nghiên cứu công lập vẫn còn rất lớn. Nhà nước vẫn nên tiếp tục đặt hàng các nhiệm vụ KH-CN để giúp cho dân nhanh chóng tiếp cận và áp dụng chúng vào sản xuất".

GS.TS Nguyễn Hồng Sơn.

Để nhà khoa học chỉ việc bước chân vào phòng thí nghiệm

Theo quy định hiện nay, lúc các tổ chức khoa học chuyển giao được sản phẩm hình thành từ nguồn ngân sách do Nhà nước hỗ trợ, đều cần nộp một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, Nhà nước phải tiếp tục giao sản phẩm công nghệ cho các đơn vị kỹ thuật quản lý, khai thác, sử dụng. Nếu cần, sở hữu thể bổ sung thêm các khoản trích quỹ tăng trưởng của đơn vị để bù vào phần ngân sách tương trợ hằng năm hoặc nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp khoa học công lập.

Đối có nếu kết quả nghiên cứu ở dạng II và dạng III thì ko thân xác định được giá trị thương mại. Trong lĩnh vực nông nghiệp, những quy trình công nghệ, quy trình khoa học rất nhiều đang được chuyển giao miễn chi phí cho nông dân, hợp tác xã nên hầu như không thu hồi được kinh phí.

Như vậy, qua quan điểm của rộng rãi công ty và cá nhân, nên nghiên cứu lại những quy định tại Nghị định 70 để bảo đảm tính khả thi, song song tạo động lực để những tổ chức, các nhà khoa học mang rộng rãi sản phẩm mang chất lượng cao hơn.

Cần sở hữu những cơ chế, càng tạo thông thoáng, cởi mở càng tốt để cổ vũ cán bộ nghiên cứu tạo ra nhiều giống hoàn hảo hơn nữa mới đúng, chứ ko phải làm cho nhụt chí của anh em. Thậm chí họ làm cho ra phổ biến con lai tốt nhưng lại giấu bớt đi, chuyển lén cho tư nhân thì Nhà nước lại càng thiệt hơn. Như vậy, Nhà nước với muốn quản những sản phẩm khoa học cũng khó ví như ko nhờ sự tự giác và cái tâm của những nhà khoa học.

Trong thời kì qua, đa dạng cán bộ kỹ thuật đã không thể thích nghi được mang chính sách đãi ngộ và cơ chế quản lý bắt buộc đã rời những viện nghiên cứu, mặc dầu “chất xám” có chảy thì cũng chảy từ trong ra ngoài, từ tổ chức công lập sang siêu thị tư nhân.

Nhưng dù sao, đây cũng là hồi chuông cảnh báo về chính sách trọng dụng cán bộ khoa học mang trình độ tốt, đặc trưng là các người được đào tạo ở nước ngoài. Bởi được tập huấn vô cùng cơ bản buộc phải họ nên với điều kiện khiến cho việc tốt, các phòng thí điểm tiêu chuẩn, những chế tài, cơ chế cởi mở để chỉ còn việc bước chân vào phòng thí điểm làm việc mà đầu óc ko phải nghĩ suy tới các chứng từ tài chính nọ kia.

Phải công bằng đánh giá, hơn ba thập kỷ qua, KH-CN, đặc thù là công nghệ trong nông nghiệp đã sở hữu 1 giai đoạn vững mạnh rất nhanh, góp phần tạo ra lượng sản phẩm dồi dào, giúp chúng ta thoát đói, giảm nghèo.

Bây giờ, nghiên cứu công nghệ trong nông nghiệp đang với nhịp trễ để chuyển sang giai đoạn nghiên cứu về chất lượng, hiệu quả kinh tế thì không thể tiếp tục duy trì tốc độ lớn mạnh nhanh như công đoạn trước đây được.

Bởi để nâng cao trưởng về số lượng, với thể chúng ta chỉ mất 1 chục năm, nhưng để đổi thay về chất lượng mang khi mất cả vài chục, thậm chí hàng trăm năm. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục tin tưởng, tạo điều kiện và mang cơ chế đãi ngộ thích hợp để tiếp sức cho những cán bộ khoa học, giúp họ sở hữu cơ hội vững mạnh để tạo ra sản phẩm đột phá, có chất lượng phải chăng hơn.

"Hiện mỗi năm, những thành viên của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam mang thể nghiên cứu được vài ba chục giống cây trồng các loại nhưng cũng chỉ có 1 số giống có thể nhân rộng được trong sản xuất. Phải chấp thuận rủi ro trong nghiên cứu, dù rằng những sản phẩm giống cây trồng được phát triển và đạt tiêu chuẩn quốc gia nhưng ko nhân rộng được trong sản xuất". 

Bài viết mới nhất

  • 30% sản lượng cam Vinh được dán tem truy xuất nguồn gốc

    03/12/2021 3:46:54 CH
  • Brazil sẽ 'soán ngôi' Trung Quốc, thành nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất?

    03/12/2021 3:44:47 CH
  • Thái Nguyên: Cú hích lớn trong xây dựng NTM

    03/12/2021 3:43:23 CH
  • Vai trò của các tổ chức quốc tế và sự chuyển đổi nông nghiệp

    02/12/2021 4:33:45 CH
  • 'Năng lượng xanh' từ mái trang trại bò sữa và bã mía

    02/12/2021 4:31:45 CH
  • Câu chuyện chuỗi lúa gạo ở Tam Hưng

    02/12/2021 4:29:36 CH
  • Giá lợn hơi mới nhất ngày hôm nay bao nhiêu 1 kg?

    02/12/2021 1:56:48 CH
  • Việt Nam: Phía trước của cường quốc lương thực trong thế kỷ 21

    01/12/2021 10:57:24 SA